Kết quả 1 đến 7 của 7
  1. #1
    Administrator hangnt's Avatar
    Ngày tham gia
    Jul 2011
    Bài viết
    4,041
    Post Thanks / Like

    Ba Lan và hành trình du lịch (Phần 1)

    Là một quốc gia lớn thứ 7 châu Âu, Ba Lan toạ lạc ở giữa vùng đồng bằng Bắc Âu, kéo dài từ Hà Lan đến dãy núi Ural của Nga. Đất nước Ba Lan gồm nhiều tiểu vùng khác nhau, và ở từng vùng khác nhau đó tạo nên những nét đặc trưng về văn hoá. Các thành phố ở Ba Lan có lịch sử lâu đời và đã cùng với đất nước trải qua rất nhiều biến cố thăng trầm. Trong số đó, cố đô Kracôp là một di tích lịch sử văn hóa lớn nhất Ba Lan, Tôrun - nơi có các kiến trúc Gô - tich thời Trung cổ, đồng thời là quê hương của nhà thiên văn Copecnich và Gđanxk là những thành phố hấp dẫn nhất Ba Lan. Hiện nay, Ba Lan đang sở hữu 7 di sản văn hóa thế giới được Unesco công nhận, đó là: trung tâm lịch sử Kracôp, mỏ muối Velitrka, phố cổ Vacsava, phố cổ Tramocx, Torun, pháo đài của Đức mẹ ở Malborka và khu rừng Belaveski cổ nhất châu Âu.

    Tu viện Jasna Gora


    Còn gọi là Ðền thánh Jasna Gora, Ba-lan, là tu viện cho các tu sĩ Paulite tại đó từ năm 1382. Nằm ở phía Tây của thành phố Czestochowa – trung tâm của miền Nam Ba Lan, tu viện nằm trên ngọn đồi cao 300m. Trong tiếng Ba Lan, Jasna Gora có nghĩa là Núi sáng. Nơi đây đã từng là pháo đài của quân BaLan trong chiến tranh với Thụy Điển thế kỷ XVII, XVIII.
    Đền thánh Đức Mẹ Czestochowa là đền thánh quốc gia Ba Lan, được xếp thứ tư trong số các trung tâm hành hương Kitô Giáo trên khắp thế giới, chỉ sau Roma, Lộ đức, và Jerusalem. Hằng năm, hơn năm triệu tín hữu hành hương đã đến đây chiêm ngắm bức ảnh thánh của Đức Mẹ, theo truyền tụng, là do thánh sử Luca đã vẽ trên một chiếc bàn được chính Chúa Giêsu đóng.
    Theo lời kể, thánh nữ Helena đã tìm được bức ảnh này tại Jerusalem vào năm 326 và đưa về Constantinople. Ở đây, con trai thánh nữ là hoàng đế Constantine của đế quốc Roma đã kiến thiết một đền thánh dâng kính Đức Mẹ. Bức ảnh thánh nhanh chóng được mến mộ vì ban nhiều phép lạ, và nhờ đó mà thành Constantinople đã được cứu khỏi cuộc tấn công của quân Saracens.
    Không ai biết rõ ban đầu Đức Mẹ và Chúa Con đã được vẽ với nước da màu đen hay không. Có thể những ngọn lửa đã làm sém hoặc khói nến qua bao thế kỷ sốt mến đã làm cho bức ảnh có màu đen sạm, và cũng vì đó nên thường được gọi là Đức Mẹ Đen.
    Có nhiều truyền tụng khác nhau kể về sự di chuyển của bức ảnh. Một truyền tụng kể rằng đó là quà tặng cho hoàng đế Charlemagne, và về sau, hoàng đế đem tặng cho ông hoàng Leo xứ Ruthenia. Một truyền tụng khác kể rằng một công chúa Hy lạp đã nhận được bức ảnh này như món quà cưới do hoàng đế Byzantine gửi tặng, và khi lập gia đình với một nhà quí tộc người Ruthenia, công chúa đã đem bức ảnh đến Belz.
    Vào thế kỷ XIV, khi quân Tartar xâm lăng Ruthenia, người ta cho biết Đức Mẹ đã can thiệp khiến một đám mây lạ bao phủ ngôi nguyện đường có bức ảnh, không để bị nguyện đường bị cướp bóc và làm cho quân xâm lược phải lập tức tháo lui.
    Về sau, một thiên thần đã hiện đến với vua thánh Ladislaus xứ Opola trong giấc mơ và thúc giục hãy đem bức ảnh đến Jasna Góra (Núi Ánh Sáng), gần một ngôi làng hẻo lánh tên là Czestochowa. Vua thánh đã xây một tu viện cho các tu sĩ dòng Phaolô coi sóc bức ảnh. Năm 1386, các tu sĩ kiến thiết một đền thánh, vì vô số phép lạ đã xảy ra tại đây, nên đền thánh này nhanh chóng nổi tiếng tại Ba Lan. Vua Jagiello sau đó còn xây dựng một vương cung thánh đường đồ sộ bọc quanh đền thánh.
    Vào năm 1655, khi quân Thụy Điển xâm lược Ba Lan, một số binh sĩ và tu sĩ quyết tâm tử chiến để bảo vệ đền thánh, và nài xin bức ảnh Đức Mẹ ban ơn giải thoát. Họ đã đẩy lui quân xâm lược trong vòng bốn mươi ngày, và cuộc chiến thắng nhỏ bé tại đây đã phấn khích người Ba Lan đến độ họ đã tiến đánh và xua đuổi quân Thụy Điển ra khỏi bờ cõi. Để ghi ơn, vua John Casimir đã tôn nhận Đức Mẹ Czestochowa làm Nữ Vương nước Ba Lan, và đặt đất nước dưới sự bảo bọc của Mẹ.
    Ba Lan dành được độc lập năm 1919, nhưng không bao lâu sau lại bị người Nga xâm lược. Ngày 14 tháng 9 năm 1920, khi quân xâm lược đến bờ sông Vistula, chuẩn bị vây hãm thủ đô Warsaw. Giữa cơn ngặt nghèo, dân chúng đã cầu nguyện cùng Đức Mẹ Czestochowa. Hôm sau – nhằm ngày lễ Đức Mẹ Đau Thương – người ta kể lại Đức Mẹ đã hiện đến giữa đám mây trên bầu trời Warsaw, và bọn ngoại xâm đã phải tháo chạy sau một loạt những cuộc giao tranh. Sự kiện này được gọi là Phép Lạ bên bờ sông Vistula.
    Năm 1717, Đức Clement XI đã công nhận bản chất hay làm phép lạ của bức ảnh. Năm 1925, Đức Pius XI đã tái xác nhận Đức Maria với tước hiệu Nữ Vương nước Ba Lan, và thiết lập lễ kính vào ngày 3 tháng 5.
    Trong thời gian Thế Chiến II, nhà độc tài Hitler ra lệnh cấm hành hương đền thánh, nhưng các giáo hữu vẫn âm thầm đến nài xin sự phù trợ của Đức Mẹ. Sau khi Ba Lan được giải phóng, nhiều tín hữu đã hành hương để tạ ơn Đức Mẹ. Đền thánh này là địa điểm để tái dâng hiến nước Ba Lan cho Đức Mẹ vào ngày 8 tháng 9 năm 1946, cũng như địa điểm tụ họp vào năm 1947, để nài xin Đức Mẹ can thiệp trước tai họa chủ nghĩa vô đạo nguy hiểm. Chắc chắn lời cầu bầu của Đức Mẹ Czestochowa đã chấm dứt ách cai trị vô đạo tại Ba Lan.
    Ngày nay, Trung Âu và Đông Âu đang mở cửa cho các du khách, đền thánh Đức Mẹ Czestochowa lại được tiếp đón nhiều tín hữu hành hương hơn trước, vì câu truyện Đức Mẹ nâng đỡ một dân tộc yêu tự do đã được loan truyền khắp thế giới.

    Krakow - Kinh đô cổ xưa của Ba Lan


    Krakow kinh đô cổ xưa của Ba Lan là một thành phố có nhiều di tích lịch sử và những bộ sưu tập nghệ thuật vô giá. Nơi đây còn để lại nhiều dấu tích của một thành phố cổ phồn hoa, một thời vàng son lộng lẫy, nguy nga.
    Lâu đài các vua Ba Lan được dựng trên đồi Wawel nhìn xuống dòng sông Wissla. Thành phố này nằm trên con đường thương mại giữa Tây Âu và châu Á từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVI. Bảo tàng Wawel là một trong những bảo tàng nguy nga, phong phú bậc nhất châu Âu. Trong nhiều phòng hoàng gia ngày nay còn trưng bày những tấm thảm Phlamăng cùng các thứ giá trị như: vương miện, vũ khí và những hiện vật nghệ thuật của Đông phương.
    Nhà thờ kiểu Gothique Wawel là một di tích nổi tiếng thế giới. Trong đó có để tro xác của các vua Ba Lan. Và cũng tại nhà thờ này còn có một kiệt tác điêu khắc: hậu bổ lớn bằng gỗ đa sắc do Veit Stoss sáng tạo năm 1477.
    Thành phố cổ Krakow cũng là một bảo tàng mênh mông chứa đầy những bảo vật của nền kiến trúc cổ, đáng chú ý nhất là tòa nhà kiểu Gothique của Cônlegium Maiút, có bảo tàng của trường Đại học Jagiellonia. Trường đại học Jagiellonia do Casimir Đại đế sáng lập năm 1364 là một trung tâm hội tụ của đời sống trí thức Đông Âu từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVII. Ngày nay, để chống lại sự hự hại của di tích lịch sử này do môi trường sinh thái bị ô nhiễm, các nhà chức trách Ba Lan đã ra sức giảm nguồn gây ô nhiễm bằng cách đóng cửa một nhà máy nhôm gần đó và dùng khí đốt thay than. Đồng thời Ba Lan đã tiến hành một chương trình tổng thể phục hồi các công trình cổ.
    Ở Uylika cách Krakow 13km, xưa kia có một mỏ muối được khai thác liên tục từ thế kỷ XII. Giờ đây nó trở thành một công trình nghệ thuật hiếm có: Sâu dưới lòng mỏ có nhiều tượng to nhỏ với các kích cỡ khác nhau và cả những nhà nguyện khắc tạc bằng muối mỏ. Ở đây còn có những hồ ngầm, một phòng nhảy kỳ diẹu. Theo thang máy xuống sâu 225m có một khu an dưỡng. Tại đó các thầy thuốc còn tận dụng môi trường muối để điều trị bệnh hen, suyễn và các bệnh dị ứng.
    Trung tâm lịch sử của Krakow nằm dưới chân Lâu đài Wawel, là nơi xưa kia các vị vua Ba Lan ở. Do giá trị về văn hóa, nghệ thuật khu di tích lịch sử Krakow được ghi vào danh sách di sản thế giới năm 1978.



    Chia sẻ cùng bạn bè

    |
    Lần sửa cuối bởi hangnt, ngày 07-15-2011 lúc 12:03 PM.

  2. #2
    Administrator hangnt's Avatar
    Ngày tham gia
    Jul 2011
    Bài viết
    4,041
    Post Thanks / Like
    Warsaw – Thủ đô của Ba Lan


    Warsaw hay Warszawa là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, niềm kiêu hãnh, niềm tự nào của người dân Ba Lan. Nằm giữa lòng châu Âu, Warsaw đã trải qua những tổn thất kinh hoàng của Đệ nhị Thế chiến, từng được coi là biểu tượng của lòng quả cảm và ái quốc, và nay là thủ đô của xứ sở từng là quê hương của cố Đức Giáo hoàng John Paul Đệ nhị.
    Nằm bên bờ con sông Wisla, cái tên Warszawa được tạo bởi Wars (người đánh cá), và Sawa (nàng tiên cá trên sông Wisla). Có lịch sử hơn 700 năm, thoạt đầu, Warszawa mới chỉ là một ngôi thành do hoàng thân xứ Mazovia xây dựng bên bờ sông Wisla; ngôi thành ấy, nay vẫn còn dấu tích tại Hoàng Cung Ba Lan. Dần dần, quanh ngôi thành, hình thành một khu vực mà ngày nay, được gọi là Thành Cổ Warszawa. Từ năm 1550, trong lịch sử đầy bão táp của Ba Lan, với những gián đoạn không đáng kể, Warszawa là thủ đô của đất nước này.
    Ngày nay, du khách tới thăm Warszawa sẽ thấy khu Thành Cổ hòa quyện làm một với Thành Mới và một số quận xưa là ngoại thành của thành phố. Thành Cổ lịch sử của Warszawa, xưa kia, được chắn giữ bởi bức tường thành có 11 cửa ô, cũng như những chiến hào bao bọc thành phố. Hiện tại, những chiến hào đã được thay bằng công viên, nhưng ở nhiều đoạn, chúng ta vẫn có thể thấy bóng dáng của một thời qua những vách tường cổ còn sót lại.
    Warszawa có công viên Hoàng gia Lazienki, công viên rộng lớn nhất, đẹp nhất và nổi tiếng nhất - đã có hơn 300 năm tuổi. Tại nơi đây, ngay ở cổng vào là tượng của Fryderyk Chopin, nhà soạn nhạc, nghệ sĩ dương cầm vĩ đại của xứ sở Ba Lan, qua tượng đài kỳ vĩ được xây từ thập niên 20 thế kỷ trước. Bị chiến tranh hủy hoại vào năm 1940, 18 năm sau, đại diện xuất chúng của trường phái Lãng mạn trong âm nhạc thế giới lại được tái khắc họa theo hình mẫu ban đầu, và đây cũng là nơi, trong mùa hạ, vào mỗi ngày Chủ nhật hàng tuần, các nghệ sĩ dương cầm lại trình tấu những bản nhạc bất tử của vị đại nhạc sư Ba Lan. Thong dong vài giờ theo những con đường rợp bóng cây của công viên đại ngàn Lazienki, bạn sẽ thấy vô vàn những dấu ấn của quá khứ, từ Cung điện Mùa hè của các triều đại vua chúa Ba Lan đến tòa dinh thự tuyệt đẹp được xây từ thế kỷ XVII trên mặt hồ, soi bóng nước.
    Con đường Hoàng gia, một trong những đại lộ rộng nhất của châu Âu nối Công viên Lazienki đến Thành Cổ, nơi có những kiệt tác kiến trúc - nhà thờ, cung điện, nhà hát - đã được xếp hạng của thủ đô xứ Ba Lan. Đó là Cung điện Hoàng gia Warszawa tại Quảng trường Thành cổ, nơi sừng sững và vươn cao bức tượng vua Zygmunt Đệ nhị trên chiếc cột đá cao 22 mét; đây chính là vị vua đã dời thủ đô Ba Lan từ cố đô Cracow về Warszawa vào thế kỷ XVI.

    Khu phố cổ của Warszawa


    Khu phố cổ của Warszawa (tiếng Ba Lan: Stare Miasto, "Starówka") là quận cổ nhất của Warszawa, Ba Lan. Khu phố này được bao bọc bởi Wybrzeże Gdańskie, dọc theo sông Vistula, và bên cạnh các phố Grodzka, Mostowa và Podwale. Đây là khu vực cổ nhất của thủ đô Warszawa và là nơi thu hút du khách tham quan. Trung tâm của Khu phố cổ là Chợ Phố Cổ với các nhà hàng Ba Lan truyền thống, các quán café và các cửa hiệu. Các phố xung quanh nổi bật với các công trình kiến trúc thời Trung Cổ như tường thành.
    Khu phố cổ Warszawa được xây dựng vào thế kỷ 17, thoạt đầu là thành lũy bằng đất, trước năm 1339 thì thành được gia cố bằng tường thành bằng gạch. Khu phố thị ban đầu phát triển xung quanh tòa lâu đài của Công tước của Mazovia mà sau này trở thành Hoàng cung. Quảng trường Chợ (Rynek Starego Miasta) được xây vào cuối thế kỷ 13 hoặc đầu thế kỷ 14, dọc theo con đường chính nối lâu đài với Phố Mới về phía Bắc.
    Vào thế kỷ 19, trong thời kỳ Warszawa tăng trưởng nhanh, khu phố cổ đánh mất tầm quan trọng của mình như là trung tâm thương mại và hành chính của thành phố. Phần lớn khu phố cổ đã bị sao nhãng và trở thành nơi sinh sống của tầng lớp dân Warszawa nghèo hơn. Mãi đến sau Thế chiến thứ nhất sau khi Ba Lan giành lại được độc lập thì chính quyền địa phương bắt đầu chăm sóc quận này.
    Được liệt vào danh sách những di sản văn hóa thế giới của UNESCO vào năm 1980, vì "đây là một hình mẫu nổi bật của một công trình gần như được xây lại của một giai đoạn lịch sử từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 20, Thành Cổ của Warszawa với những tòa nhà mang nhiều phong cách khác nhau - như hậu Gô-tích, Phục hưng hay Baroque - hẳn nhiên có thể chiếm được thiện cảm của du khách gần xa. Warszawa cũng có những khu phố hiện đại với nhũng tòa nhà chọc trời, kiến trúc tân kỳ và hấp dẫn, hoặc, có Cung Văn hóa và Khoa học cao ngất 30 tầng, món quà của Liên Xô một thuở, đến nay vẫn được giữ lại như di chứng của một thời, và vẫn là nơi khách du lịch hay "quá bộ" lên đỉnh cao nhất 234 mét để có thể nhìn toàn cảnh thành phố.
    Lâu đài Giéc - manh khổng lồ: Di sản văn hóa thế giới
    Lâu đài Giéc - manh khổng lồ nằm ở Malbork, một thị trấn ở phía Đông tỉnh Pomerania, bên bờ phía Vistula, kế sông Nogat. Đây là lâu đài kiểu Giéc – manh lớn nhất châu Âu và người địa phương gọi nó là ngọn núi vĩ đại nhất làm bằng gạch ở phía Bắc dãy núi Alps.
    Ngoài ra, Lâu đài Giéc- manh còn được gọi là pháo đài của Đức mẹ, bởi Lâu đài được gia cố kiên cố nhất vào thời cổ ở châu Âu và là kiểu mẫu cho loại kiến trúc phòng ngự kỳ diệu. Nó đã từng là kinh đô của các hiệp sĩ Giéc – manh và là nơi cư ngụ của những thủ lĩnh. Sau khi người Giéch – manh bị đánh bại, các lực lượng của Malbork đã chiếm đóng lâu đài này.
    Cách đây vài năm, Lâu đài Giéc – manh đã được công nhận là di sản thế giới của Unseco.
    Thị trấn Auschwitz – biểu tượng về sự bất hạnh của loài người

    Nằm ở phía Tây của tỉnh Malopolskie, bên dòng sông Sola. Trong thế chiến thứ II, quân Đức Phát xít đã xây dựng ở đây một trại tập trung hủy diệt lớn nhất trong lịch sử loài người, trại KL Auschwitz Birkenau, và đã cướp đi mạng sống của 1,5 triệu người. Nơi đây là thủ phủ của lãnh đại Silesia
    Năm 1942, quân Phát xít Đức đã biến trại thành trung tâm tàn sát hàng loạt. Cứ mỗi ngày có khoảng 20.000 người bị hành hình và thiêu, trong đó chủ yếu là người Do Thái. Khu tổ hợp trại tập trung này bao gồm 3 trại chính: Auschwitz I - trung tâm hành chính; Auschwitz II (Birkenau)- trại hủy diệt (Vernichtungslager) và Auschwitz III (Monowitz)- trại lao động. Ngoài ra còn có khoảng 40 trại vệ tinh, một số nằm cách các trại chính hàng chục cây số, với số lượng tù nhân từ vài tá đến vài nghìn người.
    Để nhấn mạnh rằng trại Auschwitz Birkenau là một biểu tượng của sự bất hạnh của loài người, năm 1947 chính quyền Ba Lan đã biến nơi đây thành một nhà bảo tàng, vào năm 1967 Đài tưởng niệm Quốc tế những người tử nạn đã được xây dựng. Năm 1979, Usneco đã công nhận địa điểm này là Di sản thế giới của nhân loại.



    Chia sẻ cùng bạn bè

    |

  3. #3
    Administrator hangnt's Avatar
    Ngày tham gia
    Jul 2011
    Bài viết
    4,041
    Post Thanks / Like
    Wieliczka - mỏ muối lâu đời nhất thế giới


    Tại đây, muối tràn ngập mọi nơi, nơi đây có mỏ muối lâu đời nhất thế giới và đã được Usneco công nhận là Di sản Văn hóa thế giới của nhân loại vào năm 1978.
    Mỏ muối Wieliczka, nằm ở thị xã Wieliczka, ở vùng đô thị của thành phố Krakow của Ba Lan, đã được khai thác muối ăn liên tục từ thế kỷ 13 và vẫn đang sản xuất muối ăn. Đây là một trong những mỏ muối đang hoạt động trên thế giới (mỏ xưa nhất là tại Bochnia, Ba Lan, cách Wieliczka 20 km). Mỏ có chiều sâu 327 m và dài hơn 300 km.
    Mỏ muối Wieliczka có một đoạn đường dài 3,5 km dành cho khách du lịch tham quan các bức tượng của các nhân vật thần thoại lịch sử được chạm khắc trên muối mỏ. Trong mỏ này có các phòng được chạm khắc đẹp, các nhà nguyện và các hồ ngầm và các triển lãm minh họa lịch sử của ngành khai khoáng muối mỏ ở Ba Lan. Mỗi năm có 800.000 du khách tham quan mỏ muối này.
    Hình thành vào những năm 1044, trước kia muối ở đây được khai thác bằng cách phun hơi nước vào để hòa tan những tinh thể muối, sau đó người ta bắt đầu đào trực tiếp các tảng muối. Thời kỳ này, những nhà cầm quyền Ba Lan đã thấy được lợi nhuận của nguồn khoáng sản này, nên họ đã kiểm soát việc khai thác và phân phối. Bởi thế sau đó thu nhập từ muối đã chiếm 30%GDP của cả nước.
    Trong nhiều thế kỷ, địa điểm nổi tiếng và khó đến này đã được nhiều du khách đến thăm, trong đó có Nicolaus Copernicus, Johann Wolfgang von Goethe, Alexander von Humboldt, Dmitri Ivanovich Mendeleev, Bolesław Prus, Ignacy Paderewski, Robert Baden-Powell, Jacob Bronowski (người đã quay những đoạn trong bộ phim The Ascent of Man trong mỏ muối), Karol Wojtyła (sau là Giáo hoàng John Paul II), cựu Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton, nhiều nhân vật hoàng gia và vô số thường dân.
    Trong thời kỳ Thế chiến thứ hai, mỏ muối được quân Đức chiếm đóng sử dụng để chứa các nhà máy sản xuất vật dụng phục vụ chiến tranh.
    Mỏ muối cổ xưa mang dáng dấp mê cung này đã tạo cảm hứng để dựng lại các cảnh mê cung trong tiểu thuyết lịch sử Faraon, phát hành năm 1895 của Bolesław Prus. Mỏ muối cùng với các nhà thờ, hồ và các lối đi tạo thành một "thành phố ngầm".
    Sau này, việc khai thác muối được quy củ hơn. Và mỏ muối này cũng được mở cửa cho công chúng tham quan.

    Zamosc – Padua của miền Bắc


    Tọa lạc ở phía Đông Nam Ba Lan, Zamosc được mệnh danh là Padua của miền Bắc, vì trung tâm thành phố được xây dựng theo phong cách Ý thời kỳ phục hưng. Thành phố này lấy tên của nhà quý tộc người Ba Lan thế kỷ XVI là Jan Zamoyski.
    Nằm trên những con đường mậu dịch dẫn đến Kiev và Lviv, Zamosc đã nhanh chóng trở nên một môi trường đa văn hóa, với những người Do Thái, Mỹ, Hi Lạp,… cư ngụ tại đây. Vào thế kỷ XVII, sự phòng thủ của thành phố này đã đủ mạnh để đẩy lùi sự xâm chiếm của người Thụy Điển. Tại đây, trong Thế chiến thứ II, quân phát xít đã tiến hành hành hình trên 8.000 dân vô tội, để lại những đau thương cho người dân nơi đây.
    Zamosc có khu phố cổ nổi tiếng, với nhiều danh lam thắng cảnh đẹp mắt và tồn tại lâu đời. Đó là Quảng trường Chợ, là một trong những quảng trường lớn nhất châu Âu vào thế kỷ XVI, với kích thước mỗi bề là 100m. Phía Bắc quảng trường là tòa nhà thị chính, với ngọn tháp đồng hồ cao đến 52m.
    Nhà thờ tòa thị chính tọa lạc ở phía Tây quảng trường, là một trong những nhà thờ trang nhã nhất Ba Lan, với một trong những quả chuông lớn nhất đất nước có lịch sử 300 năm. Ngoài ra là tòa nhà Wilezek với những bức phù điêu về tôn giáo…
    Bởi lịch sử lâu đời, gắn với những danh lam, di tích nổi tiếng, năm 1992, Zamosc đã được công nhận là di sản văn hóa do Unseco trao tặng.



    Chia sẻ cùng bạn bè

    |
    Lần sửa cuối bởi hangnt, ngày 07-15-2011 lúc 11:58 AM.

  4. #4
    Administrator hangnt's Avatar
    Ngày tham gia
    Jul 2011
    Bài viết
    4,041
    Post Thanks / Like
    Kalwaria Zebrzydowska - địa phương với lịch sử huyền thoại


    Kalwaria là địa phương thu hút lượng khách viếng thăm nhiều nhất ở Ba Lan, vào hai dịp tuần thánh trước ngày chủ nhật Phục sinh, để xem những vở kịch huyền bí mô tả lại những khổ hình của Chúa do người dân địa phương biểu diễn và vào Lễ hội Thăng thiên (15 tháng 8) - là ngày lễ Đức mẹ Đồng trinh quan trọng nhất của Ba Lan.
    Kalwaria Zebrzydowska cũng là địa phương có một lịch sử đầy huyền thoại. Theo truyền thuyết, bà vợ của một địa chủ ở Krakow là Zebrzydowski nhìn thấy qua cửa sổ lâu đài nơi bà ở ba cây thánh giá đang cháy sáng rực và bay cao dần lên. Chồng bà liền thiết lập một nhà thờ và một tu viện tại vị trí đó. Vào thế kỷ XVII, gia đình Zebrzydowski thành lập ở núi Lamclpronska một khu vườn đặt biệt với tên gọi là Con đường Thập tự để làm nơi cầu nguyện và sám hối của ông, với lối kiến trúc độc đáo, phỏng theo mô hình con đường của Chúa Jesus nhưng dài hơn nhiều lần. Chẳng bao lâu sau một quần thể với 40 nhà nguyện đã được xây dựng, với nhiều ngôi nhà được xây dựng theo kiểu của các công trình ở Jerusalem.
    Ngày nay những công trình được gia đình Zebrzydowski xây dựng nên trở thành địa điểm tham quan của nhiều du khách. Tại đây còn có những di vật quý giá nhất là Mộ của Jesus Christ, Nhà của Đức mẹ và Cổng Phía Tây. Các di tích này đã được Unseco xếp hạng di sản vào năm 1999.
    Thị trấn Kazimierz Dolny được mệnh danh là đẹp nhất ở Pulawy, toạ bên bờ sông Vistula. Thị trấn được đại đế Casmir thành lập vào thế kỷ XIV. Nơi đây đã phát triển và trở nên giàu có qua việc buôn bán ngũ cố vào thời gian chuyển tiếp của thế kỷ XVII. Ngày nay nó được coi như một trong những địa điểm đẹp nhất ở Ba Lan. Nổi bật nhất ở thị trấn Kazimierz Dolny là Quảng trường Chợ, nơi đây có nhiều ngôi nhà cổ có giá trị bậc nhất, trong số đó là Mikolaf và Krzyszbyla, xây dựng từ những năm 1615, với kiến trúc độc đáo kiểu những đường có mái vòm, lan can và những vật trang trí theo kiểu thời kỳ Phụ hưng ở phía trước. Quảng trường chợ cũng được viền bởi những căn nhà bằng gỗ được xây dừng từ thế kỷ XVIII.
    Ngoài ra, tại thị trấn Kazimierz Dolny còn có nhà thờ Giáo xứ, nguyên thuỷ được xây dựng theo phong cách Gô – tích. Sau trận hoả hoạn năm 1561, nhà thờ Giáo xứ được tái thiết lại và có một diện mạo mới – ngày nay được coi là khuôn mẫu đẹp nhất còn tồn tại của phong cách Phục hưng Lublin. Nhà thờ Giáo xứ còn là nơi lưu giữ những chiếc đàn organ có từ thế kỷ thứ XVII với những buổi hoà nhạc thính phòng được tổ chức thường xuyên tại đây.
    Kazimierz Dolny còn là một trung tâm nghệ thuật và văn hoá của Pulawy. Hàng năm có rất nhiều nhà văn, hoạ sĩ và điêu khắc gia đến đây để tìm cảm hứng sáng tác.

    Torun - biểu trưng của công trình kiến trúc theo phong cách Gô - tích


    Tại Torun có nhiều công trình kiến trúc mang phong cách Gô – tích rất độc đáo và tồn tại lâu đời
    Toà thị chính cũ: Là địa điểm thu hút được nhiều sự chú ý. Được xây dựng từ thế kỷ XIV, Toà thị chính là một công trình kiến trúc kiểu mẫu theo phong cách Gô – tích. Mặc dù đã được xây dựng lại và làm mới nhềiu lần vào thế kỳ XVI và XVIII, công trình này vẫn giữ được nét quyến rũ kiểu Gô – tích của nó. Với độ cao 40m, trong Toà Thị chính còn có nhà bảo tàng địa phương, lưu giữ và thường xuyên tổ chức những buổi triển lãm về những món đồ thủ công cổ xưa.
    Ngôi nhà Dưới sao: Là một trong những ngôi nhà đẹp nhất ở Torun, được xây dựng vào thế kỷ thứ XVII. Mặt tiền ngôi nhà được trang trí với rất nhiều cây cối và bông hoa. Ở trên nóc có một ngôi sao hình tám cánh. Ở đây có một phần dùng làm nhà bảo tàng Nghệ thụât Viễn Đông.
    Tháp nghiêng: Thời xưa tháp nghiêng được sử dụng như một phần của hệ thống phòng thủ thành phố. Đến thế kỷ XVIII, tháp nghêing được sử dụng làm trung tâm giam cầm phụ nữ.
    Tháp nghiên là một công trình có nhiều đặc điểm cá biệt nhất trong Phố Cổ.
    Nhà thờ St.Johns: LÀ nhà thờ cổ nhất, được xây dựng theo phong cách Gô – tích. Đến thế kỷ XV, khi ngọn tháp của nhà thờ bị đổ, một ngọn tháp mới đã được xây dựng lại với độ cao 52m, và trong đó có một chiếc chuông khổng lồ nặng gần 7 tấn. Chiếc chuông có tên La tinh là Tuba Dei (Kèn Trompet của Thượng đế) và được coi như là chuông lớn thứ hai ở Ba Lan.
    Là một quốc gia lớn thứ 7 châu Âu, Ba Lan toạ lạc ở giữa vùng đồng bằng Bắc Âu, kéo dài từ Hà Lan đến dãy núi Ural của Nga. Đất nước Ba Lan gồm nhiều tiểu vùng khác nhau, và ở từng vùng khác nhau đó tạo nên những nét đặc trưng về văn hoá. Các thành phố ở Ba Lan có lịch sử lâu đời và đã cùng với đất nước trải qua rất nhiều biến cố thăng trầm. Trong số đó, cố đô Kracôp là một di tích lịch sử văn hóa lớn nhất Ba Lan, Tôrun - nơi có các kiến trúc Gô - tich thời Trung cổ, đồng thời là quê hương của nhà thiên văn Copecnich và Gđanxk là những thành phố hấp dẫn nhất Ba Lan. Hiện nay, Ba Lan đang sở hữu 7 di sản văn hóa thế giới được Unesco công nhận, đó là: trung tâm lịch sử Kracôp, mỏ muối Velitrka, phố cổ Vacsava, phố cổ Tramocx, Torun, pháo đài của Đức mẹ ở Malborka và khu rừng Belaveski cổ nhất châu Âu.



    Chia sẻ cùng bạn bè

    |

  5. #5
    Senior Member showluo's Avatar
    Ngày tham gia
    Jul 2011
    Bài viết
    308
    Post Thanks / Like
    Kalwaria Zebrzydowska lâu đài đẹp quá
    Ngất ngây con gà tây
    Ba Lan thật là đẹp



    Chia sẻ cùng bạn bè

    |

  6. #6
    Senior Member Taeyeon0903's Avatar
    Ngày tham gia
    Jul 2011
    Bài viết
    372
    Post Thanks / Like
    Ước gì được đến Ba Lan du lịch 1 chuyến
    Nhìn đẹp và lộng lẫy quá



    Chia sẻ cùng bạn bè

    |

  7. #7
    Senior Member
    Ngày tham gia
    Aug 2011
    Bài viết
    389
    Post Thanks / Like
    Công nhận nhìn Kalwaria đáng để đi nhất
    Bảo sao đông khách nhất



    Chia sẻ cùng bạn bè

    |

Facebook comments



Đánh dấu

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •