Trang 3 của 3 Đầu tiênĐầu tiên 123
Kết quả 21 đến 30 của 30
  1. #21
    Member
    Ngày tham gia
    Jan 2012
    Bài viết
    56
    Post Thanks / Like
    XXI. Chùa Ngọc Trang
    Tịnh xá tọa lạc tại phường Ngọc Hiệp, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Tịnh xá do ngài Giác Tịnh khai sơn vào năm 1957, được xây dựng bằng vật liệu bán kiên cố (tôle, gỗ...).

    Năm 1957, nhị vị Trưởng lão Thích Giác Tánh và Thích Giác Tịnh dẫn đoàn Du tăng Khất Sĩ hành đạo đến Nha Trang. Từ nhân duyên này, ngôi tịnh xá Ngọc Trang được thành lập ban đầu chỉ bằng vật liệu thô sơ như gỗ, lá...

    Năm 1961, tịnh xá được dời đến một khu đất khác cách đó khoảng 300m. Giáo đoàn 2 chính thức sở hữu khu đất có tổng diện tích 5.000m2 này.



    Do xây dựng đã nhiều năm, tổng thể công trình tịnh xá đã xuống cấp nghiêm trọng. Năm 1991, Giáo đoàn 2 và Trưởng lão Giác Định đương nhiệm trụ trì thời bấy giờ đứng ra tổ chức khởi công đại trùng tu, và hoàn tất năm 1993.



    Hiện nay tịnh xá Ngọc Trang là tổ đình của Giáo đoàn 2 tại miền Trung; mọi sinh hoạt của chư Tăng và thiện tín trong Giáo đoàn đều quy tựu về đây.



    Thượng toạ trụ trì Thích Giác Dũng cùng với đại chúng khoảng 10 vị Tăng trụ xứ đang nỗ lực tu học để góp phần vào sự nghiệp hoằng hoá của chư tôn đức tiền bối tổ sư trong muôn một.



    Chia sẻ cùng bạn bè

    |

  2. #22
    Member
    Ngày tham gia
    Jan 2012
    Bài viết
    56
    Post Thanks / Like
    XXII. Chùa Từ Tôn
    Chùa Từ Tôn nằm trên đảo Hòn Đỏ khoảng 20.000 mét vuông, thuộc Thành phố Nha Trang. Đảo cách bờ đường Phạm Văn Đồng khoảng 250 mét, điều đặc biệt là xung quanh Chùa Từ Tôn là một bãi đá màu đỏ tự nhiên rất đẹp, làm cho ngôi chùa nhỏ vừa tôn nghiêm, vừa u tịch.

    Để đến chùa, khách phải đi bằng ghe máy từ đường Phạm Văn Đồng sang. Khách phải đi theo lối mòn ở phía Tây để đến trước hướng chính Nam của chùa. Mặt chính Nam của chùa nhìn về Hòn Yến, Hòn Tre.

    Bên dưới nền Quan Âm Các là một bãi đá trải dài ra đến biển với tượng Bồ Tát Quan Thế Âm mặt hướng ra biển.

    Năm 1960, TT Thích Viên Mãn ra đảo khai hoang phục hóa, dựng am cùng Tăng ni và các Phật Tử sau này xây chùa, mua đất chuyển ra trồng cây, chăm sóc tôn tạo.

    Sau ngày lễ “ Thầy thuốc Việt Nam” tôi được duyên may theo anh Tùng Phong đi thăm chùa Từ Tôn trên đảo Hòn Đỏ.

    Đó là ngày 17 tháng giêng Ất Dậu. Tùng Phong nói với tôi : Thầy Chúc Minh sẽ đón chúng ta vào lúc 14 giờ. Dịp này sẽ “phỏng vấn” sư ông Thích Viên Mãn để được nghe sư ông thuật lại những ngày tháng khai phá hòn đảo thành lập chùa Từ Tôn từ năm 1960. Ghe máy cặp sát bờ sau khi hai chúng tôi qua khỏi cầu mới Trần Phú, vượt qua xóm chài của ngư dân thủa trước. Màu biển thật xanh, mặt trời lơ lửng phía Tây đang xuống từ từ như một quả cam hồng lớn. Đài khí tượng báo thời tiết sẽ nóng lên gần 10 độ, tuy nhiên biển vẫn dễ chịu và có sóng nhồi. Thuyền cập bến…những tảng đá trải quanh đảo Hòn Đỏ có một sắc hồng …nhất là phía Đông cho nên gọi là Hòn Đỏ- theo lời Tùng Phong cho biết.



    Một khối đá lớn bằng 8, 9, lần cái tủ sách dáng dấp một bàn tay xòe cong lại vẫy chào từ giả cuộc đời phố thị bên kia eo biển (mà có lần du lịch Khánh Hòa dự định đổ đá lấp eo biển, nối đường qua đảo ). Tùng Phong đưa tôi đi theo lối mòn phía Tây …để đi đến trước hướng chính Nam của đảo Chúng tôi gặp những lùm gai, một ít cây bằng lăng, xoài đặt biệt là cây mai 6 nhánh vươn cao mà theo thầy Chúc Minh thì cây mai này đã ở trên đảo từ khi thầy có mặt và chỉ ra hoa đúng vào ngày rằm tháng tư. Có lẽ đây là giống mai rừng đã một thời phát triển trên hòn Trại Thủy.

    Bên cạnh đó một quả đại hồng chung họa tiết nhiều chữ Phạn rất sắc nét, dáng vẻ uy hùng hợp với màu đen của nó .. Trên chuông khắc nhiều bài thi kệ “nguyện tiếng chuông nầy siêu pháp giới “ . Bên cạnh chuông là tượng bồ tát Địa Tạng Vương- trên tay cầm một quả châu tượng trưng tánh “viên giác” của chúng sanh, cõi địa ngục không bao giờ hư hoại, mờ khuất.



    Mặt chính Nam – của chùa nhìn về Hòn Yến, Hòn Tre, biển xanh bao la một màu thúy lục yên lặng của buổi chiều tuy rằng có gió biển xào xạc… . Từ trên nền điện các của tượng thánh mẫu bồ tát Quán Thế Âm nhìn ra biển, một bãi đá trãi lài ra giáp với biển : hai bên tả hữu như thế Thanh Long, Bạch Hổ..bên trái thấy Hòn Án, hòn Thư: như một con triện (ấn) và một khối sách- chen vào giữa là một bàn cờ tiên. Sau hòn thư là “hòn chị hòn em “ (em đở chị như Tùng Phong nói). Phía dưới hòn thư ,hòn ấn là những lùm cây, nhãn rừng lá dày kín, có những cây thông còn thấp mới trồng. Có những ghế đá cho du khách, có thể hứng gió mát,,lồng lộng thổi từ biển Đông Nam làm cho du khách không còn chút gì lưu luyến đến cảnh hồng trần bên kia làng xóm.



    Trước khi đến điện bồ tát Quán Thế Âm chúng tôi đã đi qua một cảnh đẹp- rất thoáng đảng của trời xanh có cây bồ đề reo vui trong gió – mặt trời tỏa sáng trên mây hồng, ánh nắng không còn làm cho du khách ngột ngạt nhờ những tàn cây lá của cội bồ đề tỏa ra trên pho tượng Thích Ca Thế Tôn – với nụ hàm tiếu rất từ bi như đang thiền định . Lá cây rung nhẹ xào xạc và có tiếng linh khua trong gió từ sau lưng. Thật là một cảnh Phật ở trần thế. Chúng tôi đứng chiêm ngưỡng dung nhan từ bi của Thánh mẫu Quán Thế Âm… tượng chưa có nhành dương chi nhưng tịnh bình và nụ cười cũng đủ uy linh cứu giúp cho bao tâm hồn, vượt biển..kiếm sống trên đại dương muà gió chướng. (Nếu tâm họ an trú vào niềm tin ) .

    Thầy Chúc Minh hướng dẫn chúng tôi qua hướng đông của đảo. Một vùng đá phủ đầy sắc nắng của “châu sa”. Màu hồng trải trên toàn cảnh đá…vùng đá rải rộng hơn 500 mét vuông, lài lài kéo ra mặt biển.. thiên nhiên như trải chiếu sân bãi cho du khách ( chúng sanh) về với Phật cảnh đó là pho tượng Dược Sư Phật. Đứng ở ngoài biển ( trên ghe ) nhìn vào bên trái tượng là những pho kinh xếp lớp lớp; Kinh Dược sư cứu bệnh hay có thể là những gói thuốc xếp đứng bên nhau trong nhà thuốc của Dược Thượng Bồ Tát là vị Bồ Tát giải ách giải bệnh cho nhân thế; còn phía hữu của tượng là những khối đá như những thành trì của đế quốc La Mã đã bị hoang phế, nghiêng đổ - chồm ra bờ bể theo thời gian. Tôi mon men theo những khe ngầm hướng từ trung tâm ra bể… lắng nghe những âm thanh ầm ì vang vọng từ dưới đất như có những ống ngầm. Tôi nghĩ có phải là tiếng những bầu nước – dược thủy có khả năng làm vơi đi những tâm thức quá đau khổ vì nhiều mong cầu và ham muốn .



    Nơi những bàn đá rộng này sáng sớm tinh mơ mà được hít thở dương khí của mặt trời hay linh khí của Dược Sư Phật thì khỏe khoắn biết dường nào.. Tôi ước ao một ngày nào đó ở lại đêm trên đảo để ngắm trăng rằm được ăn những ngọn rau, quả bắp trồng trên đảo hấp thụ linh khí nơi đây hay những đỉa rong biển xào khô như thầy Chúc Minh đã sống cầm thực trong những ngày tháng ăn độn trước 1980 . Chính nhờ cái linh khí của đất trời trên hòn Đỏ này mà sư ông Viên Mãn đã sống dũng mảnh mà gánh nước ,” gánh nắng” của quê hương gieo mầm sống cho đời : ngài hay gánh nước chạy trên đá như những võ sư khí công thời mới khai hoang trên đảo với hai cây rựa đem từ Phú Yên về bằng ghe buồm.

    Chúng tôi đi về phía Bắc nơi đây là nền cũ mà thầy Chúc Minh đã ẩn cư. Một vùng đất nhìn về phía Nha Trang: cảnh đồi La San,Hòn Chồng, đường cái quan một vùng xây dựng nhân tạo nơi xa xa rất thơ mộng. Tôi ước ao nếu nơi đây có một trà thất để hưởng những chung trà ban mai lúc mặt trời mới ló dạng thì chắc chắn sẽ yêu đời, yêu thi ca hơn là mơ tiên cảnh vì cảnh địa đàng đã có. Thầy Chúc Minh nói : Tôi sẽ cho xây một tháp cao (7 tầng) để làm thế trấn sơn sau lưng điện Phật. Tôi rất tâm đắc ý kiến này. Tại đây đã có một cây thùy dương màu rất thẩm xanh toát ra một sức sống kỳ diệu, cái sức sống mà sư ông đã trì chí trì lực để vượt qua những cơn cảm cúm hành hạ - không một viên thuốc sau những ngày gánh nước và “gánh nắng” như nhà văn Tùng Phong nói.



    Chiều đã xuống sau khi đã chụp những tấm phim kỷ niệm, màu trời vàng và vừng kim ô rất chu sa, thầy Chúc Minh đưa chúng tôi đi quanh đảo bằng ghe máy. Thầy đứng trước mũi thuyền dáng vẻ cao lớn như thiền sư Pháp Thuận đưa Lý Giác về Tàu, những câu thơ :” Nga nga lưỡng nga nga –lưỡng diện hướng thiên nga..” vang lên trong trí tôi.

    Tôi ngầm cảm ơn sư ông, thầy Chúc Minh đã làm hạnh “trì địa” để cắm mốc đất Phật ở cảnh trần gian này.



    Chia sẻ cùng bạn bè

    |

  3. #23
    Member
    Ngày tham gia
    Jan 2012
    Bài viết
    56
    Post Thanks / Like
    XXIII. Chùa Thiên Phước
    Tọa lạc giữa cánh đồng thuộc thôn Phú Nghĩa, xã Ninh Ðông, huyện Ninh Hòa. Chùa cất năm 1847, Tổ khai sơn là ngài Ðạt Chánh hiệu Từ Nghiêm.



    Các ngôi chùa lớn ở Diên Khánh phần nhiều đều do đệ tử của ngài tạo lập, nên chùa Thiên Phước được tôn xưng là Tổ Ðình. Năm trùng tu: 1942, 1964, 1994. Thầy trù trì: Thích Thiện Duyên
    Truyền thừa:
    1. Ðạt Chánh-Từ Nghiêm
    2. Ðạt Thiệt
    3. Ngộ Ðề
    4. Bảo Thành-Tâm Kính: 1950-1951
    5. Ngộ Chiếu: 1951-1956
    6. Chơn Trừ: Trụ trì từ năm 1956 đến nay.



    Chia sẻ cùng bạn bè

    |

  4. #24
    Member
    Ngày tham gia
    Jan 2012
    Bài viết
    56
    Post Thanks / Like
    XXIV. Chùa Thiên Lộc
    Chùa Thiên Lộc nằm ở thôn Phú Ân Nam, xã Diên An, huyện Diên Khánh, Khánh Hòa. Đây là một ngôi chùa cổ đẹp, được liệt vào hàng danh thắng, hàng năm có cả chục ngàn khách du lịch tìm tới.

    Chùa được xây dựng trên một vị trí khá đẹp, mặt chùa hướng phía Nam, nhìn về dãy núi Chín Khúc (còn gọi là núi Hoàng Ngưu), bên cạnh chùa là dòng sông chỉ có nước vào mùa mưa lũ, nên gọi là sông Cạn.

    Thật khó xác định đúng niên đại xây dựng chùa, nhưng những cổ vật có mặt trong chùa và các Long vị thờ chư Tổ sư tiền bối cho biết, ngôi chùa đã được xây dựng cách nay gần ba thế kỷ. Trong chùa còn lưu giữ một đại hồng chung và một bảo chúng là hai vật rất xưa có từ thời Trịnh Nguyễn phân tranh, còn truyền lại. Trên Đại hồng chung có khắc “Thiên Lộc Thiền Tôn Tự”. Trên bảo chúng có ghi “Đinh Sửu niên, nhị nguyệt, nhị thập nhụt” , như vậy bảo chúng được đúc vào ngày hai mươi tháng hai năm Đinh Sửu, sau Vía Quan Thế Âm Bồ Tát một ngày và một cây trính có khắc ngày tháng năm trùng tu chùa: “Tự Đức cửu niên, tuế thứ Bình Thìn, mạnh thu nguyệt, cát nhật, trùng kiến Thiên Lộc Tự”.



    Theo Đại việt sử ký toàn thư, kể từ ngày phần đất Khánh Hoà thuộc về Việt Nam năm 1693, cho đến ngày Kinh đô Huế thất thủ, Việt Nam bị thực dân pháp xâm lược 1885, có 4 lần năm Đinh Sửu:

    -Đinh Sửu (1697) nằm trong niên hiệu Chính Hoà (1680-1705)

    -Đinh Sửu (1757) nằm trong niên hiệu Cảnh Hưng (1740-1786)

    -Đinh Sửu (1817) nằm trong niên hiệu Gia Long (1802-1820)

    -Đinh Sửu (1877) nằm trong niên hiệu Tự Đức (1847-1883)

    Như thế, suy luận bằng phương pháp loại trừ ta có thể bỏ qua năm Đinh Sửu 1887, vì căn cứ trên một cây trính có khắc ngày tháng trùng tu chùa: “Tự Đức cửu niên, tuế thứ Bình Thìn, mạnh thu nguyệt, cát nhật, trùng kiến Thiên Lộc Tự”, tức là trùng tu chùa niên hiệu Tự Đức năm thứ 9 (l856), tháng đầu mùa thu, ngày lành. Tất nhiên chùa phải khai sơn trước thời kỳ ấy.



    Cổng Tam quan

    Có thể tin chắc là chùa Thiên Lộc đựoc kiến tạo năm Đinh Sửu (1757) thời Cảnh Hưng. Bởi vì dưới thời chúa Nguyễn, người Đàng Trong tuy vẫn dùng danh hiệu nhà Lê, song không chịu ân uy gì của nhà Lê, nên trên văn tự chỉ ghi tuế, nguyệt mà không ghi niên hiệu cũng không hề bị tội vạ gì. Từ khi Gia Long thống nhất lãnh thổ, buộc phải viết niên hiệu trước, rồi mới viêt tuế nguyệt sau, lệnh vua không ai dám trái. Như vậy trên bảo chúng chỉ ghi tuế nguyệt, chắc chắn không phải từ thời Gia Long về sau mà thời Cảnh Hưng.

    Còn về Tổ khai sơn thì có câu chuyện huyền thoại truyền rằng:

    Trong thôn có người quả phụ, tục gọi là Bà Sáu, chuyên làm nghề nuôi tằm. Một đêm mùa thu, trời mát, trăng sáng, có bốn người đàn ông lực lưởng vào nhà bà xin tá túc. Nhà không có chiếu dư, cũng không đủ chỗ nằm cho bốn người, khách bèn mượn bốn chiếc nong đem ra ngoài sân nằm. Gà gáy đầu, Bà Sáu thức dậy, ra giếng múc nước rửa. Vừa bước xuống sân, thấy trong mỗi nong có một con rắng lớn nằm khoanh tròn. Bà thất kinh thét lớn, rồi ngã xuống đất bất tỉnh. Khi tỉnh lại, bà thấy bốn người khách ngồi chung quang giường. Một người nói:

    -Bà đừng sợ. Chúng tôi là Long thần ở thuỷ cung. Vâng lệnh Long vương lên núi lấy gỗ. Được bà chiếu cố, chúng tôi không quên ơn. Đoạn từ giả, lên đường.



    Chánh điện Chùa Thiên Lộc

    Tháng sau, trời bỗng mưa tầm tả hai ngày đêm, nước sông chảy cuồn cuộn, ngập đến thềm nhà Bà. Đêm đến, chợt bốn người đàn ông tháng trước xuất hiện, bước vào và nói: Chúng tôi chở gỗ về thuỷ phủ, nhân đi ngang ghé thăm, cám ơn bà. Nói rồi từ biệt.

    Sáng hôm sau, một bè gỗ nằm ngay ngắn nơi thềm bà Sáu. Bà biết rằng đó là của Long thần tặng mình. Nhân bên cạnh nhà có một Thiền sư che một thảo am tu hành. Bà đem toàn bộ số gỗ này cúng dường cho Thiền sư để dựng chùa. Vì thế chùa có tên là Thiên Lộc (lộc trời ban) và Thiền sư ấy chính là Tổ Khai sơn chùa. Khi bà chết, được xây miếu thờ sau chùa.

    Trong khuôn viên chùa còn có Miếu Ông Thạch thờ một tượng đá xanh, điêu khắc phần âm dương nam, nữ (Yoni và Linga), đây là phiến đá cổ đã vài thế kỷ của người Chăm để lại với diện tích khoảng 1m2. Phần Linga nổi hẳn lên trên, phần Yoni khắc chìm xuống dưới rất khéo léo. Phiến đá Ông Thạch được thờ không chỉ như một tín ngưỡng mà còn là một tác phẩm điêu khắc nghệ thuật.

    Chùa Thiên Lộc Thiền Tôn nằm sâu trong một vùng đất làng quê, yên tĩnh và thơ mộng với luỷ tre làng và dòng sông uốn lượn. Trước cửa chùa là một hồ sen hình bán nguyệt, nơi đó tôn trí tượng Phật Bà Quan Thế Âm với gương mặt hiền hoà, bao dung, phóng tầm mắt xa xăm như nguyện cứư khổ, cứu nạn cho mọi người dân ở làng quê Diên An, an bình, hạnh phúc.

    Trong sân chùa có 12 cây tùng được trồng thẳng tắp, rất hài hoà theo: "Thập nhị nhân duyên". Bước vào chùa ta còn được chiêm ngưởng Đại Hồng chung đúc vào ngày 29/9/1966 nặng 340 kg, cao 1,6 mét do bổn đạo của chùa đóng góp tạo nên. Đây là chiếc Đại Hồng chung lớn nhất, nhì trong tỉnh Khánh Hoà, với tiếng ngân vang rất xa, khi nghe tiêng chuông chùa lòng người như quên đi nổi nhọc nhằn, phiền muộn của người nông dân một nắng, hai sương.

    Sau chùa Thiên Lộc có một cây bồ đề to lớn, vòng ôm bốn người giang tay không xuể, cao khoảng 60m, tán xoè rộng khoảng 40m che rợp bóng vườn chùa. Đây là cây bồ đề rất đẹp, nổi tiếng, trở thành điểm tham quan cho du khách và là nơi sinh hoạt của những em học trò quanh vùng vào các ngày nghỉ. Theo Hoà Thượng Trú trì Thích Như Pháp thì cây bồ đề được trồng vào năm 1959, nhưng đất tốt, khí hậu lành, tốc độ phát triển của cây giống như một cây bồ đề cổ thụ đã 200 năm tuổi.

    Thiên Lộc Thiền Tôn Tự sau gần ba trăm năm xây dựng, pháp triển và trưởng thành luôn đồng hành cùng người dân địa phương trong mọi thời đại, là điểm văn hoá của xã Diên An, ngôi danh thắng của Diên Khánh, Khánh Hoà. Chùa Thiên Lộc đã ghi dấu ấn của nhiều đời Trú trì, chư vị Tôn đức đã dày công tài bồi xây dựng, gắn bó cùng chùa



    Chia sẻ cùng bạn bè

    |

  5. #25
    Member
    Ngày tham gia
    Jan 2012
    Bài viết
    56
    Post Thanks / Like
    XXV. Đại học Thái Bình Dương
    Trường Đại học Thái Bình Dương (tên tiếng Anh: Pacific Ocean University – POU) là một trường đại học tư thục được thành lập theo quyết định số 1929/QĐ-TTg ngày 31/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng



    Trường Đại học Thái Bình Dương (tên tiếng Anh: Pacific Ocean University – POU) là một trường đại học tư thục được thành lập theo quyết định số 1929/QĐ-TTg ngày 31/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng. Trụ sở của trường được đặt tại Số 99, đường Nguyễn Xiển, phường Vĩnh Phương, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Trường là một đại học đa ngành, đa lĩnh vực, đào tạo các bậc học từ trung cấp, cao đẳng đến đại học các ngành thuộc khối Kỹ thuật, Công nghệ, Kinh tế, Ngoại ngữ,... Đây còn là trường đại học tư thục đầu tiên của tỉnh Khánh Hòa và khu vực duyên hải Miền Trung.



    Chia sẻ cùng bạn bè

    |

  6. #26
    Member
    Ngày tham gia
    Jan 2012
    Bài viết
    56
    Post Thanks / Like
    XXVI. Sân bay Cam Ranh
    Sân bay quốc tế Cam Ranh là sân bay dân sự chính phục vụ cho tỉnh Khánh Hòa và các tỉnh Cực Nam Trung Bộ. Trong hệ thống du lịch quốc tế IATA, sân bay Cam Ranh mang mã số CXR.



    Sân bay Cam Ranh có tọa độ 11°59′53″N, 109°13′10″E, và tọa lạc cách Nha Trang 30km. Đường băng sân bay có chiều dài 3.050m.Sân bay do quân đội Hoa Kỳ xây dựng và được sử dụng là căn cứ Không quân Hoa Kỳ trong thời gian chiến tranh. Năm 1973, sau Hiệp Định Paris, Hoa Kỳ trao căn cứ này lại cho Không lực Việt Nam Cộng hòa.
    Sau 1975, sân bay Cam Ranh tiếp tục được sử dụng vào mục đích quân sự cho tới năm 2004. Ngày 19 tháng 5 năm 2004, sân bay Cam Ranh đón chuyến bay dân sự đầu tiên, bay từ Hà Nội thay thế cho sân bay Nha Trang nằm trong nội thị thành phố bị hạn chế về diện tích và vì lý do an toàn.
    Năm 2007, sân bay này phục vụ khoảng 500.000 khách, xếp thứ 5 trong các sân bay tại Việt Nam. Từ tháng 6 năm 2008, sân bay có thể phục vụ các chuyến bay ban đêm [1]. Năm 2008, sân bay này đã phục vụ 683.000 lượt khách, vượt Sân bay Phú Bài để thành sân bay lớn thứ 4 Việt Nam tính theo số lượng khách thông qua. Tỷ lệ tăng của số lượt khách thông qua vào năm 2007 là 36,8%, của năm 2008 là 36,3% so với năm trước, là sân bay có tốc độ tăng trưởng lượng hành khách cao nhất tại Việt Nam. Theo dự báo, số lượt khách qua sân bay này sẽ đạt 1,5 triệu vào năm 2010[2]. Cuối năm 2009, nhà ga mới hoàn thành,có thể phục vụ 800 hành khách trong giờ cao điểm.



    Chia sẻ cùng bạn bè

    |

  7. #27
    Member
    Ngày tham gia
    Jan 2012
    Bài viết
    56
    Post Thanks / Like
    XXVII. Chùa Bửu Long (Diên Khánh)
    Thôn Lề Thạch, xã Diên Thọ huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. ĐT: 058.378.4061 web: Chùa Bửu Long -- http://www.buulongtu.com



    Ngôi chùa Bửu long, đã sáng lập vào năm 1802 (khoảng thời vua Gia Long) tọa lạc tại làng lể Thạnh xã Diên Thọ Huyện Diên Khánh Tỉnh Khánh Hòa. Ngài trụ trì đầu tiên, viên tịch tại chùa Bửu Long. Hiện nay ngôi bảo tháp của cố Hòa Thượng khai sơn vẫn còn, nhưng lâu quá nên mất tên tuổi của ngài, rồi truyền thừa đời thứ hai đến cố Hòa Thượng .

    Tự lâm tế chánh tôn tứ thập nhị thế Húy thượng Ngộ hạ Hiền chi Giác linh, ngài đã trụ trì ngôi chùa Bửu Long, và viên tịch tại đó. Tuyền thừa đời thứ ba, trụ trì cố Hòa Thượng tự lâm tế chánh tôn tứ thập tam thế Húy thượng Từng hạ Trung hiệu Nhơn Thành giác linh. Trải qua ba đời ngôi chùa Bửu long vì chiến trang tàn phá toàn bộ nên không có thầy thừa kế nên dân làng ký bán cho Hòa Thượng trụ trì tổ đình chùa Minh Thiện là ngài Thích Huệ Đăng, để trùng tu lại, nhưng vì chiến tranh nên không thể trùng tu được ngôi chùa Bửu long, đến năm 1990 tôi được Giáo Hội phật Giáo Diên Khánh, bổ nhiệm trù trì, hiệu Thích Chơn Thức hiện nay.



    Chia sẻ cùng bạn bè

    |

  8. #28
    Member
    Ngày tham gia
    Jan 2012
    Bài viết
    56
    Post Thanks / Like
    XXVIII. Am Chúa
    Am Chúa là một di tích lịch sử văn hóa lâu đời của xứ Trầm Hương, gắn liền với tục thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na. Cùng với truyền thuyết về Thiên Y Thánh Mẫu, di tích Am Chúa đã thể hiện rõ nét sự giao lưu văn hóa Việt - Chăm.

    Am Chúa là một di tích lịch sử văn hóa lâu đời của xứ Trầm Hương, gắn liền với tục thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na. Cùng với truyền thuyết về Thiên Y Thánh Mẫu, di tích Am Chúa đã thể hiện rõ nét sự giao lưu văn hóa Việt - Chăm.

    Am Chúa nằm trên lưng chừng núi Đại An (còn gọi là núi Dưa) thuộc thôn Đại Điền Trung, xã Diên Điền, huyện Diên Khánh. Am Chúa là nơi thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na - Bà Mẹ xứ sở đã khai sáng và truyền dạy cho dân chúng cách làm ăn, sinh sống. Tín ngưỡng thờ Bà Thiên Y A Na được bắt nguồn từ tục thờ Bà Ponagar của người Chăm. Hay nói đúng hơn, những người Việt đến định cư ở đất này đã Việt hóa tục thờ Bà Mẹ xứ sở của người Chăm bằng truyền thuyết về Bà Thiên Y A Na giáng trần tại núi Đại An và hiển thánh ở Tháp Bà - Nha Trang. Đến nay, ở Khánh Hòa vẫn lưu truyền câu nói: “Am Chúa hiển nhân, Tháp Bà hiển thánh” như một lời khẳng định về sự nối liền giữa di tích Am Chúa với Tháp Bà Ponagar.

    Am Chúa được xây dựng năm nào không rõ, nhưng trải qua nhiều lần trùng tu, hiện nay am đã là một nơi thờ phụng trang nghiêm, tôn vinh huyền sử về Thánh Mẫu Thiên Y A Na. Đường lên Am Chúa với hơn 100 bậc tam cấp được lát đá hoa cương. Sau khi qua cổng tam quan, chúng ta sẽ đến Am Chúa. Cấu trúc của Am Chúa có bái đường và chính điện. Trên nóc bái đường và chính điện đều có đắp nổi hình tứ linh “Long, Ly, Quy, Phụng”. Ở gian bái đường còn đắp nổi đôi câu đối bằng chữ Hán ghi lại sự tích Bà Thiên Y A Na. Giữa chính điện là khám thờ Bà Thiên Y A Na, 2 bên thờ tả, hữu ban liệt vị. Tại Am Chúa vẫn còn giữ được nhiều sắc phong của triều đình nhà Nguyễn, trong đó có sắc phong của vua Tự Đức cho phép thờ phụng Bà Thiên Y A Na là “Hồng Nhơn phổ tế linh cảm diệu thông, Mặc tướng trang huy thượng đẳng thần”. Điều đó phần nào cho thấy giá trị văn hóa của Am Chúa đã được khẳng định từ xưa.



    Không chỉ là di tích lịch sử văn hóa lâu đời, Am Chúa còn gắn liền với lịch sử đấu tranh cách mạng của quân dân xã Diên Điền nói riêng và huyện Diên Khánh nói chung. Hiện nay, trước sân của am vẫn còn một cây mã tiền cổ thụ có tuổi thọ trên 350 năm. Sau lưng Am Chúa còn lưu lại dấu vết của lô cốt, giao thông hào bằng đá do thực dân Pháp xây dựng trong những năm chiếm đóng tại đây.



    Với nhiều giá trị văn hóa và lịch sử cách mạng, năm 1999 Am Chúa đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa quốc gia. Hiện đang lập dự án trùng tu tôn tạo Am Chúa với nhiều hạng mục: trùng tu am chính, xây dựng hệ thống điện nước, làm đường nhựa lên chân núi Đại An… Hy vọng, từ dự án này, di tích lịch sử văn hóa Am Chúa sẽ phát huy được giá trị văn hóa truyền thống, ngày càng thu hút du khách đến với xứ Trầm Hương.



    Chia sẻ cùng bạn bè

    |

  9. #29
    Member
    Ngày tham gia
    Jan 2012
    Bài viết
    56
    Post Thanks / Like
    XXIX. Đèo Rù Rì
    Đèo Rù Rì với cái tên nghe rất ấn tượng, là con đèo cuối cùng của miền Nam để vào trung tâm thành phố Nha Trang.

    Đèo dài 3km nhưng khá nguy hiểm, từ cuối thành phố Nha Trang đi ra Ninh Hòa và là đường 1 chiều. Xung quanh đèo Rù Rì là vô vàn những bãi tha ma, trên đỉnh đèo còn có một tượng Đức mẹ Maria giơ tay ban phước cho vùng đất ngoại thành còn nhiều khó khăn.

    Thực ra, cái tên đèo Rù Rì là cái tên nói về một loài chim, ngày xưa sống rất nhiều ở quanh những ngọn đồi và những vườn cây xung quanh khu vực đèo. Khi chiều tối, nó kêu rất "thảm thiết" và sau mỗi tiếng kêu là những tiếng rù dài trong "cổ họng"...



    Chiều tà, tắt bóng dương, đi qua con đường mòn ở chân những quả đồi này, cứ thấy rờn rợn. Có người thì lại bảo, ở quanh khu vực đèo Rù Rì có quá nhiều bãi tha ma, nên oan hồn người chết "ám" vào những con chim đó.



    Chia sẻ cùng bạn bè

    |

  10. #30
    Member
    Ngày tham gia
    Jan 2012
    Bài viết
    56
    Post Thanks / Like
    XXX. Chùa Long Sơn
    Chùa tọa lạc dưới chân núi Trại Thủy, số 20 đường 23 tháng 10, phường Phương Sơn, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

    Toàn cảnh chùa

    Toàn cảnh chùa

    Chùa Long Sơn

    Tên thường gọi: Chùa Long Sơn

    Chùa tọa lạc dưới chân núi Trại Thủy, số 20 đường 23 tháng 10, phường Phương Sơn, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. ĐT: 058.822558, 058.816919. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông.

    Chùa do Hòa thượng Thích Ngộ Chí dựng trên núi Trại Thủy (xưa còn có tên là núi con Dơi) vào năm 1886, tên là chùa Đăng Long. Hòa thượng tên Nguyễn Tâm Văn Nghi, sinh năm 1856, người làng Vinh Điềm, huyện Vĩnh Xương, tỉnh Khánh Hòa. Ngài viên tịch năm 1935.

    Năm 1900, sau một trận bão lớn, chùa bị hư hỏng và dời trên núi xuống địa điểm hiện nay.

    Năm 1936, chùa được Hội Phật học Khánh Hòa chọn đặt trụ sở Hội Phật học. Năm 1940, chùa được Hội trưởng Tôn Thất Quyền và Cư sĩ Võ Đình Thụy vận động tổ chức trùng tu. Đến năm 1968, chùa lại bị hư hỏng. Từ năm 1971 đến năm 1975, Thượng tọa Thích Thiện Bình đứng ra lo việc trùng tu chùa. Việc trùng tu mới thực hiện được 60% theo bản vẽ của kiến trúc sư Võ Đình Diệp.

    Thích Ca Phật đài

    Tượng Đức Phật nhập Niết bàn

    Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Án chính thờ đức Phật Thích Ca, hai bên có phù điêu Bồ tát Quan Thế Âm và Bồ tát Đại Thế Chí.

    Bên hông trái của chùa có đường lên núi Trại Thủy. Nơi đây, có tôn trí pho tượng đức Phật Thích Ca do Thượng tọa Thích Đức Minh, bấy giờ là Hội trưởng Hội Phật học tỉnh Khánh Hòa, và điêu khắc gia Phúc Điền – Bùi Văn Thêm thực hiện vào hai năm 1964 – 1965. Phật đài cao 24m, đường kính đài sen 10m, phần tượng Kim thân Phật tổ cao 14m, tư thế tọa thiền, uy nghi giữa bầu trời. Chung quanh đế Phật đài có hình 7 vị Thánh tử đạo.

    Vườn chùa

    Trường trung cấp Phật học Khánh Hòa

    Người dân Nha Trang có câu:

    Ai về viếng cảnh Khánh Hòa
    Long Sơn nên ghé, Tháp Bà đừng quên
    Kim thân Phật tổ nhớ lên
    Nhìn ông Phật trắng ngồi trên lưng trời.


    Chùa đã qua các đời trụ trì như sau: Hòa thượng Thích Ngộ Chí (từ 1886 đến 1935), Thượng tọa Thích Chánh Hóa (từ 1936 đến 1957), Thượng tọa Thích Chí Tín (từ 1957 về sau).

    Chùa hiện đặt văn phòng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Khánh Hòa, Trường Trung cấp Phật học tỉnh Khánh Hòa. Hằng ngày, chùa đón tiếp đông đảo Phật tử, du khách trong nưóc, nước ngoài đến sinh hoạt, tham quan, chiêm bái.
    Chùa Long Sơn là một trong những thắng tích bậc nhất ở miền Trung.



    Chia sẻ cùng bạn bè

    |

Trang 3 của 3 Đầu tiênĐầu tiên 123

Đánh dấu

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •